Du lịch Hồ Pa Khoang - Điện Biên

Hồ Pá Khoang thuộc địa phận xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ gần 20km, nằm kề quốc lộ 279, nối thành phố Điện Biên Phủ với Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ - Mường Phăng.

Mù Căng Chải - Yên Bái tuyệt đẹp mùa lúa chín

Vào giữa tháng 9, những người đam mê các thửa ruộng bậc thang ở huyện Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái) đã đổ về vùng núi cao để săn ảnh lúa chín. Tuy nhiên, phải đến đầu và giữa tháng 10, lúa mới vàng ươm trên núi đồi Mù Cang Chải.

Du lịch Sapa - Hành trang cần có

Thời điểm tốt nhất để đến Sapa là từ tháng 9 đến tháng 11 hoặc từ tháng 3 đến 5. Vào thời điểm này thời tiết khá ổn định, ngày nắng khô, đêm lạnh. Vào tháng 4 – 5, Sapa tràn ngập trong sắc hoa đua nở và những cánh đồng xanh mướt.

Phượt Mộc Châu - Sơn La anh em ơi

Cao nguyên Mộc Châu nằm cách Hà Nội khoảng 190 km, một đoạn đường không ngắn nhưng nhiều bạn trẻ Hà Nội vẫn chọn cách đi xe máy tới đây. Cao nguyên xanh mướt này như có sức cuốn hút mãnh liệt, mùa nào tới đây cũng đều thích thú.

Kinh nghiệm du lịch Mai Châu - Hòa Bình

Từ Hà Nội, theo đường quốc lộ số 6, qua thị trấn Xuân Mai, qua TP. Hoà Bình, vượt con dốc Cun dài 12km, qua huyện Cao Phong, qua Huyện Tân Lạc là tới Thung Lũng Mai Châu.

Du lịch Tây Bắc xin kính chào quý khách!

Tây Bắc, một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu nhưng cũng đầy tiếng than thở của những thân phận người Tiếng hát làm dâu.

Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trở. Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500m trở lên, các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu Luông 2.983m. Dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là "sừng trời" (Khau phạ), chính là bức tường thành phía đông và vùng Tây Bắc.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Thủ tục, chi phí chuyển đổi từ đất khai hoang thành đất thổ cư?

Một trong những vướng mắc thường gặp đối với loại đất khai hoang theo cách gọi của người dân là việc: Làm số đỏ, đóng tiền thuế chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê, tặng cho đất đai… Nhà thổ cư Hà Nội giải đáp cụ thể:

1. Thủ tục, chi phí chuyển đổi từ đất khai hoang thành đất thổ cư?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Gia đình tôi có một mảnh đất khai hoang tại tỉnh Lai Châu thuộc quyền sở hữu của gia đình tôi từ năm 1985; dùng để trồng hoa màu, không có tranh chấp và đến nay (năm 2015) vẫn chưa có sổ đỏ.

Nay chúng tôi muốn chuyển mảnh đất này thành đất thổ cư thì phải dựa trên những điều luật nào? Có mất phí không và thủ tục chuyển đổi như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: H.V

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến,:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Theo Điều 52 Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014 quy định thì để được phép chuyển mục đích sử dụng đất phải đáp ứng những điều kiện nhất định:

"Điều 52. Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

1. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

2. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất."

Ngoài ra, theo khoản 1 và khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai 2013 quy định về phân loại đất thì nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm;…

Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;…

Mục đích của bạn chính là chuyển từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp. Vậy theo điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 57 Luật Đất đai 2013 thì đây là trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Chúng tôi xin đưa ra tư vấn về trình tự, thủ tục chuyển đổi như sau:

Trình tự thực hiện:

– Người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nộp hồ sơ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường;

– Phòng Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa; xem xét tính phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với trường hợp chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết; chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc làm trích sao hồ sơ địa chính;

– Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất làm trích sao hồ sơ địa chính gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường và gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính;

– Phòng Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho chuyển mục đích sử dụng đất; chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ký lại hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất.

– Phòng Tài nguyên và Môi trường trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chỉnh lý lại cho người sử dụng đất.

Thành phần, số lượng hồ sơ:

– Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất;

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có) sau:

+ Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

+ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

+ Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

+ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ nêu trên (từ khoản a đến khoản e) mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp.

+ Bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.

Về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất khi thực hiện thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất được quy định cụ thể tại Điểm b Khoản 2 Điều 5Nghị định 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất quy định về thu tiền sử dụng đất như sau:

"b) Chuyển từ đất nông nghiệp được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh nơi có đất quy định áp dụng.

>> Tham khảo ngay: Quy định chuyển đất khai hoang thành đất đấu thầu UBND xã?

2. Đất khai hoang trước năm 1998 khi quy hoạch có được bồi thường?

Đất nhà em khai hoang từ năm 1997 đó là một cái vúng ao sâu, lúc đó cũng đã hỏi qua xã đồng ý cho làm nhưng không có giấy tờ gì. Gia đình em đã xây nhà ở và làm chuồng lợn với công trình phụ, nhưng nay xã lại quy hoạch chỗ chuồng lợn nhà em làm đất ở và bán cho người khác mà không hỏi qua gia đình em. Vậy là đúng hay sai ạ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến,:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất tại địa phương được thực hiện theo quy định tại Luật đất đai năm 2013. Theo đó, việc lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Điều 43 như sau:

"1. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 42 của Luật này có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

2. Hình thức, nội dung và thời gian lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội nghị, lấy ý kiến trực tiếp và công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện;

b) Nội dung lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án công trình thực hiện trong kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

c) Thời gian lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là 30 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến.

…"

Khoản 1, khoản 2 Điều 42 Luật đất đai 2013 quy định về trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:

"1. Chính phủ tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì giúp Chính phủ trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.

Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, cấp huyện chủ trì giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất."

Như vậy, việc quy hoạch diện tích đất đang thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh và cấp huyện phải thông qua việc lấy ý kiến của nhân dân trong đó có gia đình bạn thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội nghị, lấy ý kiến trực tiếp và công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện. Bạn có thể đối chiếu quy định nêu trên để xác định quy hoạch về diện tích bạn đang sử dụng thuộc quy hoạch của cấp nào để xác định sự tham gia lấy ý kiến đã được triển khai hay chưa. Nếu có cơ sở chứng minh về việc lấy ý kiến về quy hoạch không đúng quy định bạn hoàn toàn có quyền khiếu nại tới cơ quan đã xây dựng quy hoạch.

>> Bài viết tham khảo thêm: Tư vấn về việc đòi lại đất khai hoang? Thủ tục khởi kiện đòi lại đất khai hoang?

3. Thủ tục làm sổ đỏ cho đất khai hoang?

Kính chào luật sư, mong luật sư giải đáp giúp tôi vấn đề sau: Trước năm 1975, ông cố tôi tên Thân Hoàng có khai hoang 1 lô đất khoảng 500m2, sau đó, ông ra lô mặt tiền sống, để lại lô đất cho em ông, tức bà Thân Thị Nhâm (vợ liệt sĩ cô đơn) ở. Bà Thân Thị Nhâm sống đến năm 1986 thì mất, từ đó ông cố tôi cho ba tôi (cháu nội) sử dụng lô đất đó xây nhà ở và thờ phụng bà Thân Thị Nhâm đến nay, vẫn đóng thuế đất đầy đủ từ trước đến nay.

Tất cả việc cho nhận đều thông qua họp gia đình, không có giấy tờ. Lô đất ở đến nay không có tranh chấp. Gia đình tôi muốn làm Sổ đỏ nên giữa năm 2014 có làm đơn lên Ban quản lý đất đai phường Điện Nam Đông, nhưng lâu vẫn không được giải quyết dù đã yêu cầu gia đình cung cấp nhiều đơn xác nhận của làng xóm. Sau nhiều lần lên làm việc không thành thì ban quản lý đất đai Phường Điện Nam Đông nói không đủ thẩm quyền, nói đưa đơn lên Ban quản lý đất đai thị xã Điện Bàn. Khi gia đình chúng tôi nộp đơn và có hỏi thì lại nhận được câu trả lời là để họ xuống hỏi lại ban quản lý phường. Nay gia đình chúng tôi mong luật sư có thể cho chúng tôi câu trả lời về trình tự thủ tục cũng như các giấy tờ, biểu mẫu xác nhận cần thiết để được cấp Quyền sử dụng đất cho lô đất đang ở. Xin chân thành cảm ơn!

>>Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 101Luật đất đai 2013quy định về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất:

"1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Như vậy, trường hợp của bạn, đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất (nếu có).

Thứ hai, các bước thực hiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

Bước 1: Cá nhân chuẩn bị hồ sơ đủ theo quy định. Thành phần hồ sơ:

+ Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (theo mẫu).

+ Giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất, phiếu lấy ý kiến khu dân cư.

+ Trích lục hoặc trích đo..

+ Biên bản xét duyệt hội đồng xét cấp giấy xã.

+ Thông báo công khai hồ sơ (15 ngày).

+ 02 Tờ khai lệ phí trước bạ nhà đất (Mẫu 01/LPTB – nếu có).

+ 02 Tờ khai tiền sử dụng đất (Mẫu số 01-05/TSDĐ- nếu có).

+ 02 Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (mẫu 11/TK-TNCN- nếu có).

+ 02 bản giấy tờ khác có liên quan việc miễn giảm nộp tiền sử dụng (nếu có).

+ 02 Đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất (nếu có).

+ Bản án của tòa án, biên bản thi hành án, quyết định thi hành án của cơ quan thẩm quyền, quyết định các cấp (nếu có).

Bước 2: Cá nhân nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất cấp huyện.

Bước 3: Cán bộ tiếp nhận kiểm tra hồ sơ. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ thì hướng dẫn bổ sung tại chỗ hoặc viết phiếu yêu cầu bổ sung. Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ thì cán bộ tiếp nhận vào sổ tiếp nhận hồ sơ, ký vào đơn nơi “Người tiếp nhận hồ sơ”, đồng thời tiến hành viết biên nhận hẹn ngày nhận thông báo thuế.

Bước 4: Đến ngày hẹn nhận thông báo thuế, công dân mang biên nhận đến nhận thông báo thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính (nếu có). Sau đó, nộp biên lai thuế cho bộ phận tiếp nhận. Bộ phận tiếp nhận hẹn ngày nhận giấy chứng nhận.

Bước 5: Đến hẹn, công dân mang phiếu hẹn đến Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện nhận kết quả.

Cách thức thực hiện: Trực tiếp tại trụ sở hành chính tại Văn phòng đăng ký đất cấp huyện.

Trong trường hợp ban quản lý phường không thực hiện giải quyết cho bạn, bạn có thể thực hiện khiếu nại hành vi này theo quy định của Luật khiếu nại 2011.

>> Tham khảo nội dung: Làm thế nào để được cấp sổ đỏ với đất khai hoang?

4. Đất khai hoang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải trả lại không?

Năm 1976, gia đình của ông D có khai hoang được một diện tích đất để canh tác đến năm 1980 thì bỏ hoang. Đến năm 1986 tôi thấy diện tích trên bỏ hoang nên lên phát dọn và và trồng cây ổn định đến năm 2007. Năm 2008 UBND xã đo đạc và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình tôi, khi ông D biết gia đình tôi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì viết đơn khiếu nại đòi lại đất của gia đình tôi. Vậy xin hỏi gia đình tôi có trả lại đất cho ông D không? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật Đất đaigọi số:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Vì gia đình bạn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008 nên căn cứ để cấp giáy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai số 13/2003/QH11 của Quốc hội. Gia đình bạn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó sẽ thuộc 1 trong 2 trường hợp sau:

– Áp dụng Khoản 3 Điều 50 Luật đất đai 2003, hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất lâm nghiệp tại vùng núi, vùng hải đảo, vùng kinh tế khó khăn,…

– Áp dụng Khoản 4 Điều 50 Luật đất đai 2003, hộ gia đình đã sử dụng đất trước ngày 15/10/1993, và UBND xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo những thông tin bạn cung cấp, UBND xã đã tiến hành đo đạc và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bạn, như vậy mảnh đất đã được UBND xác nhận là đất không có tranh chấp thì mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy gia đình ông D có đến trước khai hoang và trồng cây lâm nghiệp nhưng sau đó lại bỏ hoang, không chăm sóc và ông D chưa từng có một giấy tờ nào để chứng minh quyền sở hữu của mình trên mảnh đất đó. Như vậy, ông D không thể được xem là người đã sử dụng đất ổn định và lâu dài vì thế ông ấy không có căn cứ để đòi đất của gia đình bạn được.

Căn cứ Điều 105, 107, 113 Luật đất đai 2003, gia đình bạn hoàn toàn có các quyền đầy đủ của người sử dụng đất và không phải trả lại đất cho ông D. Khi xảy ra tranh chấp, khiếu nại gia đình bạn có thể cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm cơ sở bảo vệ quyền lợi cho mình.

Ngoài ra, căn cứ Luật đất đai 2013 (luật hiện hành đang áp dụng), thì những trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận đã cấp:

"Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai".

Nếu như gia đình bạn không thuộc vào các trường hợp này thì sẽ không bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

>> Tham khảo ngay: Theo luật đất đai thì đất khai hoang có được cấp sổ đỏ không?

5. Thu tiền sử dụng đất đối với đất khai hoang lấn chiếm khi cấp giấy chứng nhận như thế nào?

Kính chào luật sư Nhà thổ cư Hà Nội! Thưa luật sư tôi có một thắc mắc mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tháng 04/1993 tôi có mua một mảnh đất 96m2 liền kề với đất ở nhà tôi (giấy tờ viết tay do 2 gia đình tự thỏa thuận). Tổng diện tích đất là 283m2 gồm diện tích đất tôi mua thêm và diện tích đất ông cha để lại. Đất nhà tôi được cấp trước năm 1954, từ năm 1993 đến nay tôi đã sử dụng liên tục 2 mảnh đất này (để ở) và không hề xảy ra tranh chấp. Nay tôi đến Phòng địa chính của xã để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cán bộ địa chính cho tôi biết 96m2 tôi mua là đất khai hoang lấn chiếm và phải nộp đủ tiền sử dụng đất là 50%.

Vậy xin quý luật sư tư vấn cho tôi về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 sử dụng làm nhà ở và phục vụ đời sống, giấy tờ viết tay có giá trị hay không và việc thu tiền sử dụng đất trong trường hợp của tôi thế nào là đúng? Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

>> Luật sư trả lời: Thủ tục cấp sổ đỏ cho đất khai hoang thực hiện như thế nào?

>> Tham khảo ngay: Đền bù khi bị thu hồi đất khai hoang của người dân?

6. Tư vấn thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khai hoang?

Thưa luật sư, em có một thắc mắc như sau mong luật sư giải đáp ạ: Gia đình em có mua một mảnh đất khai hoang khoảng 1 ha nhưng trên mảnh đất đó không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mảnh đất thuộc sự quản lý của xã. Vậy em muốn mua thì phải làm thủ tục như thế nào để sau này em có quyền lợi. Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.T

Trả lời

Căn cứ vào Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 có quy định cụ thể về các điều kiên để thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với đất đai như sau:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính."

Vì mảnh đất mà bạn định mua đó là một mảnh đất được khai hoang, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ người sở hữu mảnh đất trước đó. Nên căn cứ theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013 thì diện tích đất khai hoang đó không đủ điều kiện chuyển nhượng (mua bán) theo quy định của pháp luật (quy định tại Koản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính Phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai). Về mặt pháp lý thì mảnh đất đó bạn chưa thể mua được khi chưa có những giấy tờ hợp pháp.

Vậy để đảm bảo sau khi mua đất bạn có được đầy đủ quyền năng của chủ sở hữu tài sản (đất đai) thì bạn phải đảm bảo mảnh đất bạn mua được phải có giấy tờ hợp pháp và rõ ràng. Bạn có thể đến gặp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất này hiện nay ai được quyền chuyển nhượng, mặc dù Ủy ban nhân dân cấp xã là chủ thể có thẩm quyền quản lý nhưng chưa chắc có thẩm quyền chuyển nhượng (bán) đất cho bạn. Từ đó, sẽ có hướng giải quyết tốt nhất cho bạn trong trường hợp này.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn về việc yêu cầu bồi thường hoặc lấy lại đất khai hoang phục hóa bị xã thu hồi?

7. Tư vấn đăng ký quyền sử dụng đất khai hoang được tặng cho?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Nhà tôi có một mảnh đất được ông ngoại tôi khai hoang từ năm 1982 và ông ngoại giao cho bố mẹ tôi quản lý, sử dụng làm đất nông nghiệp từ đó tới nay và không có tranh chấp gì.

Ông ngoại tôi đã mất từ năm 2005. Vậy tôi muốn hỏi bây giờ mẹ tôi muốn đi đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên mẹ tôi có được không và thủ tục hồ sơ cần những giấy tờ gì? Mong luật sư trả lời giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: G.P

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến,:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Theo Khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai 2013 quy định về việc Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

"2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Theo quy định trên, gia đình bạn cần đáp ứng các điều kiện sau:

– Không vi phạm pháp luật về đất đai;

– Được UBND địa phương xác nhận là đất không có tranh chấp;

– Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Nếu đáp ứng các điều kiện trên, gia đình bạn có thể nộp đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Bạn có thể tham khảo qua bài viết ở trên hoặc tham khảo bài viết sau:Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khai hoang?

Ýkiến tư vấn trên dựa theo thông tin do khách hàng cung cấp. Để được tư vấn chi tiết hơn, khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số điện thoại Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ởhoặc trực tiếp tại văn phòng công ty Luật Nhà thổ cư Hà Nội!

Trân trọng./.

Vp luật sư Nhật Minh

Đất nền thổ cư: Giá cao vẫn hút khách

Chỉ “lên” chứ không “xuống”

Trước hàng loạt thông tin khuyến mãi ồ ạt, thậm chí là “mua nhà trúng vàng, mua nhà trúng ô tô…” cùng với đó là việc giá giảm hàng loạt ở phân khúc đất nền dự án, biệt thự, nhà chung cư, nhưng thị trường đất nền thổ cư dường như vẫn “bình chân như vại”, dửng dưng với tất cả các chiêu bài này. Ngay cả ngôi nhà trong các ngõ, ngách của nội thành Hà Nội, chưa bao giờ có chuyện người bán tung chiêu khuyến mại để thu hút người mua. Không khuyến mãi cũng có thể do đây thường là những giao dịch nhỏ lẻ, hoặc người bán ý thức được giá trị của đất thổ cư là chỉ có ít đi chứ không thể tăng lên. Một lợi thế nữa không thể không nhắc đến là đất thổ cư thường ở trong các khu dân cư, gần trường, chợ, bệnh viện… rất thuận tiện cho cuộc sống và sinh hoạt.

Chính vì thế nên thực tế là giá đất thổ cư chỉ có lên chứ không hề xuống. Chị Linh ở phố Hào Nam (quận Đống Đa) có một căn nhà hơn 50 m2 cách mặt đường Hào Nam chừng 60m. Do cần tiền nên chị rao bán từ cách đây 1 năm với giá ban đầu là 3,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau một năm, càng để càng lên giá, chị bán được căn nhà với giá 5,7 tỷ đồng. Sở dĩ người mua vẫn chấp nhận mua giá cao như vậy vì đó là khu phố trung tâm, đường rộng, các giao dịch mua bán hay sinh sống đều rất tiện lợi, hơn nữa nhà chị cách mặt ngõ cũng rất gần. Không chỉ những căn nhà gần đường phố lớn, trung tâm, tiện đi lại, ngay cả những khu tận trong ngõ sâu, ngóc ngách nhưng cũng vẫn giữ giá, trung bình cũng phải từ 50 đến 70 triệu đồng/m2 trở lên với nhà ở các quận nội thành.

Anh Hùng, cán bộ công ty văn phòng phẩm Hồng Hà, chia sẻ: Thực tế, mấy năm về trước, chỉ cần có trong tay xấp xỉ 1 tỷ đồng là đã có thể mua được một căn nhà nho nhỏ, có diện tích khoảng chừng trên dưới 30 m2 trong ngõ. Nhưng với số tiền này thì hiện nay vợ chồng anh có tìm mỏi mắt cũng không bao giờ có được căn nhà như thế.

Giá cao vẫn có người mua

Với số tiền khoảng 1,5 tỷ đồng, những gia đình nhỏ sẽ có hai sự lựa chọn: Hoặc mua nhà đất thổ cư diện tích nhỏ và phải chấp nhận trong ngõ, ngách sâu hoặc mua một căn chung cư nhỏ và ở xa quận trung tâm. Tuy nhiên, hướng người mua tìm đến mua nhà đất thổ cư vẫn cao do tâm lý “chắc chắn”, phải có một “tấc đất cắm dùi”. Theo khảo sát tại một số sàn giao dịch trên đường Lê Văn Lương, nhà thổ cư có diện tích nhỏ với tầm tiền vừa phải từ 25 đến 40m2 đều được khách hàng mua hết. Đặc biệt, những căn nhà ở quận gần trung tâm luôn hút khách.

Chị Thúy là công chức ở Bộ Tư pháp cho biết: Sau 6 năm lập gia đình, hai vợ chồng tiết kiệm được tầm 1,5 tỷ. Đầu tiên anh chị định mua một căn chung cư nhỏ nhưng tầm tiền này thì phải mua chung cư cách trung tâm Hà Nội tầm 10km trở ra, hơi bất tiện vì hai anh chị cùng đi làm trong nội thành. Chính vì thế, phương án cuối cùng là anh chị đã tìm được một căn nhà thổ cư tại quận Hai Bà Trung, diện tích 32m2, giá “nhỉnh” hơn 1,5 tỷ đồng một chút. “Căn nhà tuy diện tích nhỏ nhưng chồng tầng lên cũng đỡ, lại ở gần trung tâm thành phố nên cả hai vợ chồng đi làm và cháu nhỏ đi học cũng rất tiện. Bằng giá tiền này có khi chúng tôi phải mua nhà chung cư bên kia cầu, đi lại ngại ngần lắm”- chị Thúy chia sẻ.

Như vậy, tuy giá cao nhưng vì có nhiều tiện ích kèm theo nên đất nền thổ cư vẫn có chỗ đứng vững chắc. Anh Lê Hoàng Anh ở quận Cầu Giấy tiết lộ, anh có lô đất nền tại khu Sông Đà 7, diện tích hơn 200m2, rao bán với giá 80 triệu đồng/m2 từ hồi tháng 6 vẫn không có người hỏi mua. Mới đây, tôi quyết định bán căn nhà thổ cư ở Minh Khai, diện tích 35m2, lập tức đã có người đặt cọc ngay mặc dù giá cũng không hề rẻ.

Qua phản ánh của một số sàn, các giao dịch thành công đều là đất thổ cư. Bởi giá cả của phân khúc này hợp với túi tiền của khách hàng; giấy tờ sổ đỏ chính chủ; cộng với tâm lý “tấc đất cắm dùi”… càng khiến phân khúc này sôi động hơn.

Xây nhà lấn, chiếm đất công có bị phạt không?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, đối với hành vi lấn, chiếm đất đai sẽ bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy từng mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi. Nhà thổ cư Hà Nội tư vấn một số vấn đề cụ thể:

1. Xây nhà lấn, chiếm đất công có bị phạt không?

Xin chào Luật Nhà thổ cư Hà Nội, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi ở tỉnh Quảng Bình, vừa qua tôi xây dựng nhà ở kiên cố 2 tầng thuộc địa bàn thành phố, trong quá trình làm móng thợ đã không xác định được vị trí đất cho nên lấn sang đất công chiều ngang 0,5 m sâu 14m.

Gia đình tôi bị đội thị trường đô thị lập biên bản buộc đình chỉ và làm các thủ tục liên quan. Tôi làm đơn lên UBND xã xin được xét giao đất phần lấn, chiếm đó ( 0,5*14m). Hồ sơ đã được hoàn thành gửi lên UBND thành phố. Sau một thời gian được cán bộ Phòng tài nguyên và môi trường, cơ quan thuế, văn phòng đất tới thẩm định theo hồ sơ đã được gửi, các phòng ban đã thống nhất ký đầy đủ các văn bản nhất trí việc giao đất này. Sau khi trình ra UBND thành phố thì chủ tịch UBND thành phố không chấp nhận và lý giải là phần đất này để quy hoạch làm con đường.

Thực chất lô đất này là nằm trong phần hàng rào bằng, hàng cây lâu năm. Tôi nhận được quyết định của Phó chủ tịch UBND thành phố đình chỉ công trình, tháo dỡ phần xây lấn chiếm đất công đó. Gia đình rất hoang mang lo lắng, toàn bộ tiền đã dồn ra để làm nhà hết cả, nay đã xây dựng xong phần thô 2 tầng. Xin được công ty luật tư vấn cho gia đình biết phải làm sao? Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Mừng

>> Luật sư trả lời: Giải quyết trường hợp người dân lấn, chiếm đất như thế nào?

2. Làm thế nào khi bị lấn, chiếm đất liền kề?

Kính chào Luật sư! Nhà con và nhà kế bên có tranh chấp về một phần đất sát vách. Theo Sổ Đỏ của gia đình con thì xác nhận phần đất đó là của gia đình con. Nhưng nhà kế bên đó cứ xây dựng nhà trên phần đất đó. Gia đình con có gửi đơn đến UBND xã yêu cầu giải quyết nhưng mấy ông ở đó cứ kéo dài thời gian mãi không chịu giải quyết hòa giải để gia đình con có thể gửi đơn đến tòa án huyện. Thời gian kéo dài như vậy thì nhà kế bên đó cứ xây nhà tiếp tục trên phần đất thuộc chủ quyền của gia đình con mà gia đình con ngăn cản thì bên đó lại chửi, hùa nhau đòi ra UBND xã giải quyết, nhưng đến UBND thì người ở đó không giải quyết, cuối cùng không ai chịu ngăn cản bây giờ nhà đó xây được luôn cái nền nhà rồi.

Cho con hỏi là bước tiếp theo con cần phải làm gì? Chuẩn bị những gì? Sau này nếu giải quyết tranh chấp mà gia đình con thắng kiện thì cái phần nhà xây dựng trái phép trên phần đất của con gia đình con có phải bồi thường cho nhà kế bên không? Con mong nhận được thư trả lời sớm ạ, vì bây giờ nhà kế bên đó có một ông làm ở toà án chống lưng cho họ nên họ rất ngang nhiên làm. Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp trường hợp lấn đất, gọi; Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Căn cứ Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Trước hết, việc tranh chấp đất đai giữa gia đình bạn và hàng xóm sẽ được thực hiện hoà giải do UBND xã trong thời hạn 45 ngày. Nếu trong trường hợp không hòa giải được tại UBND xã thì gia đình bạn có quyền nộp đơn lên UBND huyện hoặc khởi kiện tại Toà án.

Như vậy, nếu quá thời hạn nêu trên mà UBND xã không tổ chức hoà giải cho bạn thì bạn hoàn toàn có quyền khiếu nại lần đầu lên UBND xã về hành vi hành chính này của UBND xã, nếu khiếu lại lần đầu mà UBND xã vẫn không giải quyết thì bạn khiếu nại lần 2 lên UBND huyện để được giải quyết.

Sau khi đã tiến hành hòa giải mà vẫn không thỏa đáng, bạn có thể làm đơn khởi kiện tại Tòa án.

>> Tham khảo ngay: Quy định về mức xử phạt hành vi lấn, chiếm đất mới cập nhật

3. Giải quyết như thế nào hàng xóm lấn chiếm đất?

Thưa Luật sư. Tôi có mua 1 mảnh đất thổ cư của anh T, trong lúc mua bán, tôi có công chứng hồ sơ mua bán. Sau đó, lên Phòng Tài nguyên và môi trường làm biến động và đính chính tên. Tôi làm giấy phép xây dựng và tập kết vật liệu xây dựng rồi, đang chuẩn bị xây nhà thì phát hiện nhà ông H đã lấn chiếm đất tôi. Nhà ông H hình thành trước lúc tôi mua đất của ông T. Tôi có làm đơn yêu cầu xã hòa giải nhưng không được. Anh H quyết định không chịu sửa sai. Địa chính xã có xuống đo bằng thước dây, nhưng không chuẩn, anh H quyết không chịu. Hiện giờ, xã hẹn sẽ mượn máy đo ở Phòng Tài nguyên và môi trường về đo lại. Sự việc như trên, gia đình tôi phải giải quyết như thế nào? Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn luật đất đai:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp việc anh H không chịu là như thế nào? Anh H không chấp nhận kết quả đo đạc thì bạn cần đợi kết quả về việc mượn máy đo đạc để đo lại. Còn khi anh H không để cho cơ quan có thẩm quyền đo đạc diện tích đất trên thì căn cứ khoản 2 Điều 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

"2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ;

b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;

c) Xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ."

Cũng theo khoản 1 Điều 67 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:

"1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; đến 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội và lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội; đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, b, c và đ Khoản 1 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính."

Như vậy, bạn có quyền nộp đơn kiến nghị tới Chủ tịch UBND cấp xã để xử phạt hành chính với hành vi trên. Hoặc bạn sẽ thực hiện yêu cầu tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai tương tự như trường hợp đã được tư vấn ở trên.

>> Tham khảo bài viết liên quan:Tư vấn giải quyết nhà hàng xóm lấn chiếm đường đi chung?

4. Khi nào thì việc lấn chiếm đất trái pháp luật?

Thưa luật sư, em có câu hỏi mong luật sư tư vấn giúp. Nhà em ở từ năm 1972 và làm sổ đỏ năm 2003. Trên sổ đỏ có ghi rõ phía Đông giáp đường đất rộng 3m. Phía Tây giáp đường đất rộng 3m. Tổng chiều dài từ Đông sang Tây là 26m. Vài năm trước nhà em làm ăn xa đến khi trở về thì nhà bên giáp hướng Đông đã lấy đi đường đất rộng 3m và lấn sang phần đất nhà em.

Bây giờ, nhà em đo lại đất từ Đông sang Tây chi còn 22m. Đường đất ngày xưa giáp Đông không còn nữa. Đến khi tranh chấp đất xảy ra thì nhà bên đêm sổ đỏ mới làm năm 2013 ra. Trên sổ đỏ không có giáp đường đất rộng 3m mà giáp với nhà em luôn. Chữ ký giáp biên nhà bên cũng giả chữ ký nhà em luôn để làm sổ đỏ. Sự việc nhà em đã gửi lên UBND thị trấn nhưng 2 năm nay vẫn chưa giải quyết xong, UBND không chịu giải quyết? Gia đình em phải làm gì thưa luật sư? Em xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn xử lý trường hợp lấn chiếm đất, gọi:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì trên sổ đỏ có ghi rõ phía Đông giáp đường đất rộng 3m, phía Tây giáp đường đất rộng 3m, khi làm ăn xa đến khi trở về thì nhà bên giáp hướng Đông đã lấy đi đường đất rộng 3m và lấn sang phần đất nhà bạn. Đường đất ngày xưa giáp Đông không còn nữa. Như vậy, nhà bên cạnh đã thực hiện việc lấn chiếm đất nhà bạn khi phần lấn chiếm đó đã thuộc quyền sở hữu của gia đình bạn.

Tại Điều 12 Luật đất đai 2013 có quy định:

“Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.

…

9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.

10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.”

Bên cạnh hành vi lấn chiếm thì nhà bên cạnh còn giả mạo chữ ký của gia đình bạn để làm sổ đỏ. Hành vi này hoàn toàn vi phạm quy định của pháp luật. Hành vi giả mạo chữ ký của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chẳng hạn: Hành vi giả mạo chữ ký của người khác để chiếm đoạt tài sản, tước quyền thừa kế của ngươì khác thì có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đối với một người có chức vụ, quyền hạn mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích trục lợi thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác,…

Đối với trường hợp của bạn, nhà bên cạnh mạo danh chữ ký của bạn để làm sổ đổ đất của nhà mình, nếu để nhằm mục đích chiếm đoạt mảnh đất đó thì có thể bị xử lý hình sự khi có căn cứ xác định hành vi cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng.

Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

…"

Như vậy, nếu hành vi giả mạo chữ ký của nhà bên cạnh nhà bạn đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên tùy vào các yếu tố như động cơ, mục đích phạm tội. Còn nếu chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, mức tiền xử phạt vi phạm hành chính có thể từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng phụ thuộc vào tính chất cũng như mức độ của hành vi vi phạm theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Tranh chấp về đất đai trước hết sẽ được giải quyết theo thủ tục hòa giải tại cơ sở, nếu việc hòa giải không thành thì tùy từng trường hợp theo pháp luật quy định, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp. Cụ thể:

Đối với thủ tục hòa giải ở cơ sở:

Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013, khi phát sinh tranh chấp nếu các bên không thỏa thuận được thì có quyền gửi khiếu nại tới Ủy ban nhân dân cấp xã để được hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức hòa giải cho các bên. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Như vậy, khi nhận được khiếu nại của một trong các bên tranh chấp, việc Ủy ban nhân dân xã phải mời gia đình bạn lên để tiến hành giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân xã chỉ có thẩm quyền tiến hành hòa giải giữa các bên có tranh chấp. Trong trường hợp hòa giải không thành, Ủy ban nhân dân xã sẽ lập biên bản hòa giải không thành, biên bản này phải có chữ ký của các bên.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

Khi tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã mà không thành thì sẽ được giải quyết như sau:

– Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì các bên có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.

– Đối với Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai thì các bên chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau, tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nếu một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc;

+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, nếu việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã giữa gia đình bạn và các hộ liền kề không thành. Gia đình bạn có thể nộp đơn khởi kiện ra Tòa án cấp huyện nơi có bất động sản để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

>> Xem ngay: Tư vấn pháp luật về việc hiến đất làm đường đi chung?

5. Tư vấn về hành vi lấn chiếm đất của nhà hàng xóm?

Kính gửi công ty luật Nhà thổ cư Hà Nội, anh chị cho em hỏi một số vấn đề về tranh chấp đất đai như sau: em là Nguyễn Thị Th, hiện đang là sinh viên trường đại học Luật Hà Nội. Em là đối tượng thuộc trẻ em không nơi nương tựa, từ nhỏ em đã phải sống với dì và bà ngoại nhưng giờ em lại phải xa nhà xa vùng đất Nghệ An nghèo nàn để theo con đường học tập thực hiện ước mơ. Và hiện nay ở nhà dì em đang có tranh chấp diện tích đất giữa 2 bờ rào với bác hàng xóm. Nhưng phần sai rõ ràng là thuộc về gia đình bác kia vì mỗi ngày bác ấy cứ lấn sang phần đất của dì em một ít thế mà trái lại bác ấy còn bạo miệng đòi gọi chính quyền và còn doạ đánh dì em bởi họ khinh thường dì em thân phận đàn bà, trong nhà lại không có đàn ông. Dì em cũng là một người dân thấp cổ bé họng, lại phải nuôi thêm một người em gái tàn tật nữa. Vụ tranh chấp này xảy ra đã từ lâu rồi khi em còn học cấp 3 nhưng do gia đình dì em không muốn làm lớn chuyện vì nể tình làng nghĩa xóm với lại sự hiểu biết về pháp luật của người dân ở Nghệ An quê em còn kém vì thế càng ngày họ càng xem thường gia đình dì em, cứ mỗi lần dì gọi điện ra kể cho em thì em chỉ biết khóc vì sự thật em cũng đang bất lực, không thể tự mình giải quyết được do trình độ hiểu biết pháp luật của em còn hạn hẹp, lại chưa có kinh nghiệm. Nhưng cứ để tình trạng này kéo dài thì tội cho dì em lắm. Vậy nên em đã lên mạng tìm kiếm đủ mọi cách giải quyết và em thật vui khi tìm được sự giúp đỡ từ anh chị. Em biết các anh chị trong đoàn đều là những người vừa có tài vừa có tâm, kinh nghiệm dồi dào.

Vậy nên em viết bức thư này gửi đến anh chị mong rằng anh chị sẽ hướng dẫn giúp em cách giải quyết vụ tranh chấp này một cách thuận lợi nhất vì gia đình dì em còn gặp nhiều khó khăn lại neo đơn, không biết nhờ vả vào ai trong khi gia đình họ lại có uy có lực. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của ạnh chị để những người ăn ngay ở thẳng như dì em không phải chịu thiệt thòi?

Em xin chân thành cảm ơn anh chị!

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Tại Điều 12 Luật đất đai năm 2013 có quy định:

“Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.

…

9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.

10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật."

Tại Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có quy định như sau:

“Điều 10. Lấn, chiếm đất

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở.

…

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này."

Theo các quy định trên, trong trường hợp đất thuộc quyền sở hữu của dì bạn mà hàng xóm có hành vi lấn chiếm đất của dì bạn là hành vi vi phạm pháp luật đất đai, và tùy theo hành vi và mức độ lấn chiếm, vi phạm thì sẽ bị áp dụng mức phạt tương ứng.

Theo Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, theo đó, trong trường hợp này, dì bạn có quyền yêu cầu UBND xã tiến hành hòa giải. Nếu hòa giải không thành bạn có quyền làm đơn yêu cầu tòa án nơi có bất động sản để giải quyết tranh chấp trên, đòi lại quyền lợi cho dì bạn. Hoặc có thể lựa chọn một trong các cách thức đã được nêu ở trên để yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết.

>> Tham khảo ngay: Quy định về lối đi chung khi bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản khác?

6. Chứng minh việc lấn chiếm đất công như thế nào?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Cha ông A có mua một mảnh đất giáp nghĩa địa từ năm 1970, đến năm 2012 cha ông A chết nhưng không có để lại di chúc, do vậy các anh em của ông A có thống nhất chia cho ông A mảnh đất trên. Tháng 5 năm 2013 ông A có được UBND huyện X cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó xác định rõ vị trí phần đất của ông A giáp với nghĩa địa.

Tháng 11 năm 2013, ông A có làm đơn xin UBND xã và các cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận một phần đất nghĩa địa nhưng các cơ quan chức năng chưa đồng ý. Tuy chưa được các cơ quan chức năng đồng ý nhưng ông A vẫn tiến hành xây dựng hàng rào kiên cố lấn sang phần đất nghĩa địa. Xin hỏi luật sư, để chứng minh ông A lấn, chiếm đất nghĩa địa thì cần làm những việc cụ thể gì? Cần những giấy tờ gì để chứng minh ông A lấn chiếm đất công. Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự, đất đai trực tuyến,: Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Hành vi lấn, chiếm đất đai là một trong các hành vi bị pháp luật đất đai nghiêm cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật đất đai 2013 và theo quy định tại Điều 3 Nghị định 102/2014/ NĐ-CP xử lý hành chính trong lĩnh vực đất đai thì:

"Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.

Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai."

Như vậy, theo thông tin mà bạn cung cấp thì mặc dù không được cấp giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng gia đình ông A vẫn tiến hành xây dựng lấn sang phần đất của nghĩa địa như vậy là vi phạm quy định của pháp luật.

Theo đó, bạn có thể viết đơn trình báo về hành vi lấn chiếm đất công của bà A gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7: Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Nhà thổ cư Hà Nội.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai – Nhà thổ cư Hà Nội

Vp luật sư Nhật Minh

Sức hút từ nhà hẻm có thổ cư

Thị trường bất động sản nhà hẻm có thổ cư hiện nay

Nhà trong hẻm là những ngôi nhà không nằm trên các tuyến đường mặt tiền giao thông lớn mà tọa lạc ở các con ngõ trong hẻm. Những căn nhà có diện tích vừa phải, đường hẻm thông thoáng dễ đi lại đang rất hút khách mua. Bên cạnh đó các căn nhà trong hẻm nhưng có thổ cư đang là một phân khúc được giới đầu tư bất động sản quan tâm và tìm mua nhiều trong thời gian gần đây.

Theo nhận định của giới đầu tư bất động sản nhà hẻm là một hạng mục mới trên thị trường và đem lại nhiều lợi nhuận đáng kể. Mức giao dịch nhà thổ cư trong hẻm cũng đang tăng cao đặc biệt là ở những con hẻm phố cổ ở thủ đô Hà Nội.

Các ngôi nhà trong hẻm nhưng ở vị trí đắc địa như gần mặt tiền, khu dân cư đông đúc đang có giá mua tăng cao. Theo số liệu từ các chuyên gia mức giá này đã tăng hơn 10% so với mức giá trước đó. Thị trường nhà hẻm có thổ cư đang góp phần tích cực vào sự sôi động của lĩnh vực bất động sản trong nước.

Sức hút từ nhà hẻm có thổ cư

Nguồn cung dồi dào và giá cả hợp lý

So với việc phải bỏ một số tiền lớn để mua những căn hộ chung cư hay nhà phố mặt tiền thì nhiều người lại tìm đến giải pháp tiết kiệm hơn chính là mua nhà trong hẻm. Giá của những căn nhà trong hẻm thường khá hợp lý và phù hợp với mức thu nhập của nhiều người có ý định mua nhà.

Nhiều căn nhà trong hẻm có giá từ 500-700 triệu là con số phù hợp cho những người có mức sống bình dân. Không khan hiếm như chung cư tầ trung hay nhà đất nền nhà hẻm có nguồn cung trên thị trường khá lớn. Và người mua có thể cân nhắc nhiều lựa chọn để mua một căn nhà hẻm ưng ý.

Giao thông ngày càng nâng cấp

Hệ thống giao thông tại các thành phố lớn đang ngày càng được hoàn thiện và đồng bộ hơn. Các các hẻm đã được quy hoạch sửa chữa mà mở rộng hơn trước rất nhiều. Trước đây người mua ngại mua nhà hẻm vì lo sợ những con hẻm có diện tích quá nhỏ không dễ đi lại.

Bên cạnh đó người mua còn sợ mua những căn nhà cuối hẻm không có tính an toàn khi xảy ra sự cố. Song hiện nay nhờ những chủ trương chính sách hợp lý những con hẻm đã ngày càng mở rộng và thuận lợi hơn cho người mua an cư lạc nghiệp ổn định cuộc sống.

Tận hưởng cuộc sống yên tĩnh và có thể kinh doanh

Nhà trong hẻm có thổ cư sẽ nằm trong các ngõ nhỏ vì vậy đem lại không gian yên tĩnh để sinh hoạt. Những ngôi nhà hẻm có đường hẻm rộng rãi theo đúng quy định về chiều rộng hẻm sẽ là một gợi ý tuyệt vời cho nhiều chủ kinh doanh nhỏ. Nhiều người tận dụng những căn nhà trong hẻm gần đường lớn để kinh doanh và thu về nhiều lợi nhuận. Tiêu biểu như Hà Nội những con hẻm như hẻm ăn đêm, hẻm “thiền” đều rất hút khách. Đều này cho thấy nhà trong hẻm có thổ cư tích hợp được cả hai tính năng là sinh sống và kinh doanh rất phù hợp với tâm lý của người mua.

Người Việt vẫn luôn có tâm lý muốn sở hữu nhà đất thổ cư hơn các căn hộ chung cư cao cấp. Tâm lý muốn có một căn nhà của riêng mình là vấn đề tồn tại ở rất nhiều người mua. Nhà hẻm có sổ đỏ là một sản phẩm bất động sản đáp ứng được những yêu cầu đó. Bên cạnh đó trong những năm gần đây tình trạng tranh chấp diễn ra tại nhiều chung cư đã khiến người mua nhà lo ngại. Nên nhà hẻm xuất hiện đã khiến người mua nhà có thêm lựa chọn và cơ hội để sở hữu một căn nhà thổ cư như mong muốn.

Nhà hẻm đang là một phân khúc bất động sản phát triển lặng lẽ những chưa bao giờ hết sốt với các nhà đầu tư. Phân khúc nhà thổ cư trong hẻm rất có tiềm năng với số lượng khá lớn nên người mua đang rất ưu chuộng sản phẩm này. Trong tương lai không xa nhà hẻm sẽ dẫn đầu xu hướng đầu tư và khẳng định vị trí của mình trong lĩnh vực bất động sản.

Giải quyết tranh chấp đất khi không có giấy tờ chứng minh?

Không ít trường hợp khi các bên tranh chấp mà cả hai hoặc một bên không có bất kỳ giấy tờ nào chứng minh việc sở hữu, chiếm hữu với phần tài sản đang tranh chấp, kiện tụng. Vậy, trường hợp này pháp luật có xử lý không? Xử lý như thế nào?

1. Giải quyết tranh chấp đất khi không có giấy tờ chứng minh?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Đất trong vườn nhà tôi đã sử dụng hơn 50 năm nay nhưng không có giấy tờ chứng minh nào cả cũng chưa thực hiện nghĩa vụ đóng thuế mà nằm trong sổ chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà bên cạnh năm 2010 mà không qua ký tứ cận của gia đình tôi. Bây giờ dựa vào sổ đỏ, người bên cạnh đòi trả đất cho họ, thì tôi phải làm sao? Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: M.T

Luật sư tư vấn luật đất đai:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Phương pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề tranh chấp mà vẫn giữ được tình cảm láng giềng giữa bạn và gia đình hàng xóm là hai bên nên tự thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được thì bạn có thể nhờ sự can thiệp của chính quyền.

Đầu tiên là thủ tục hòa giải tại địa phương nơi xảy ra tranh chấp. Tại Điều 202 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

"1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Thủ tục hòa giải tại địa phương là thủ tục bắt buộc đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, nếu việc hòa giải tranh chấp đất đai tại xã không thành, bạn có tiến hành các bước tiếp theo. Cụ thể như sau:

Theo Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định vềThẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;"

Nếu bạn lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND có thẩm quyền thì cần gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến UBND cấp huyện nơi có mảnh đất đó, còn nếu chọn Tòa án thì gửi đơn ra tòa án cấp huyện nơi có bất động sản tranh chấp căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bạn nên chuẩn bị những tài liệu chứng minh được rằng mảnh đất đó đã được gia đình nhà bạn sử dụng trong một thời gian dài (50 năm) và không xảy ra tranh chấp cho đến thời điểm hiện tại. Ví dụ như lời khai của những hộ dân sống xung quanh.

>> Tham khảo ngay: Giải quyết tranh chấp đất liệu đã thỏa đáng?

2. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất với cháu ruột?

Thưa luật sư, gia đình tôi có thửa đất khai hoang sử dụng ổn định qua nhiều thế hệ, vùng đất xung quanh cũng có hiện trạng như vậy. Năm 1997, gia đình tôi tái định cư, vì ở xa để ổn định cuộc sống ban đầu nên có để lại cho cháu ruột của vợ trồng cây, vùng xung quanh cũng như vậy. Sau này, xã có tổ chức kê khai đo đạc, có sự tham gia chính quyền cùng với thôn, xóm để xác định chủ đất và tên chủ hộ gia đình tôi được ghi trên bản đồ, cháu ruột của vợ tôi cũng ra khai và bảo đất của mình khai hoang nên hai bên xảy ra tranh chấp. Ngay lúc đó, gia đình tôi đã dừng ngay việc tiếp tục canh tác của cháu tôi trên mảnh đất đấy và sau đó gia đình tôi canh tác nhưng bị phá hoại.

Quá trình tranh chấp thì địa chính mở tờ bản đồ mới lại có tên của cháu vợ tôi nhưng không trả lời được quá trình xác nhận ghi tên cháu vợ tôi vào bản đồ. Trong quá trình tranh chấp, tôi được sự xác nhận của những người có đất giáp ranh xung quanh, trình bày được thông tin và thực trạng của vùng đất, còn phía cháu vợ tôi không có người làm chứng xác nhận, không cung cấp được thông tin khai hoang, quá trình sử dụng. Hòa giải không thành nên tôi muốn làm hồ sơ để xin ủy ban huyện xem xét, ra quyết định.

Xin hỏi luật sư tôi phải chuẩn bị những gì và cơ sở pháp lý tôi cần có để được công nhận quyền sử dụng mảnh đất trong trường hợp trên. Xin cảm ơn luật sư đã đọc thư của tôi, rất mong nhận được sự hồi đáp của luật sư để tôi sớm có niềm tin để tiếp tục đòi công lý về cho mình.

– Trăng Khuyết –

>> Luật sư trả lời: Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khai hoang?

3. Tranh chấp đất mồ mả thì giải quyết như thế nào?

Xin cho tôi hỏi: Tổ tiên nhà tôi có khu đất trước đây do ông bà khai hoang lập nghiệp nhưng do trước đây hàng trăm năm không làm giấy tờ hay sổ quyền sử dụng đất hợp pháp. Và cũng rất rất lâu rồi ông bà tổ tiên qua đời và được chôn cất tại khu đất này, và thời gian cứ thế trôi đi chúng tôi đã hình thành khu mộ đến nay đã quy tập và duy tu đã 2 lần.

Tuy chưa có giấy tờ nhưng chính quyền cũng không gây khó khăn, cản trở vì chúng tôi chỉ tập kết những mộ đã chết lâu năm rồi không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Chuyện xảy ra tranh chấp như sau: Cận khu mộ nhà tôi có một hộ dân cũng sống hàng chục năm nay nhưng tính ra cũng chưa lâu năm bằng khu mộ nhà tôi có. Vừa rồi nhà nước, chính quyền địa phương có tổ chức đo đạc lại đất đai cho dân nhưng khi đo đạc không biết thế nào lại đo nguyên khu mộ của nhà tôi vào đất của hộ dân này vì thế trước đây hai tháng chúng tôi tiến hành trùng tu khu mộ thì bị hộ dân này gây khó khăn không cho tập kết vật tư, chúng tôi rất bức xúc và có báo chính quyền địa phương xuống hiện trường giải quyết. Nhưng phía chính quyền trả lời đất này không thuộc khu mộ nhà nước, không cấp đất khu mộ ở đây và có ý cấp đất cho hộ dân kia nên chúng tôi không đồng ý nên xảy ra tranh chấp. Có một điểm nữa là không phải phần khu mộ quy tập đó mà phía trước khu mộ còn có mảnh đất trước đây đã chôn cất ông bà tổ tiên, quá trình bốc dỡ vẫn còn nguyên lỗ từng phần mộ đã cất bốc?

Trên đây là nội dung sự việc kính nhờ luật sư cho tôi lời giải đáp thỏa đáng tôi và gia đình xin chân thành cảm ơn.

– Sâm –

>> Luật sư trả lời: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất mồ mả?

4. Tranh chấp đất đã bàn giao để lấy tiền đền bù?

Kính gửi Công ty Luật Nhà thổ cư Hà Nội, tôi có câu hỏi xin nhờ luật sư tư vấn giúp! Vào năm 1996 tôi được giao ruộng khoán bên bãi cát tổng là 1.510m2 do ông D.V.T làm xóm trưởng ký giao, đến năm 2007 ông N.N.T làm xóm trưởng có ý kiến bên bãi cát trồng lúa không hiệu quả. Bên lưu hôi có ruộng của cô H.T.L trả lại là 3 sào và không làm nữa, lúc đó ông N.V.H nhà ở xóm 3 muốn mở trang trại bên bãi cát gần khu đó muốn chuyển đổi, tôi và bà B.T.L, nhà ở xóm 2 nhất trí chuyển và ông N.N.T dẫn tôi sang đồng lưu hôi bàn giao 3 sào của cô H. T. L.

Kể từ 2007 đến 2018 tôi có sử dụng trồng lúa và có đóng thuế đầy đủ cho nhà nước và không có tranh chấp gì, nay 2018 có dự án đền bù và cô H. T. L có về tranh chấp nhận lại ruộng và tôi có làm đơn gửi xuống Ủy ban nhân dân xã nhờ giải quyết, và xã có gọi nhà cô H.T.L xuống làm việc và cô H.T.L có bảo ruộng nhà cô ấy thì cô ấy được đền bù, và vẫn chưa giải quyết xong, nay tôi gửi bài viết này kính nhờ luật Nhà thổ cư Hà Nội có thể tư vấn tôi làm đơn khởi kiện sang TAND huyện được không? Nếu có khởi kiện thì gia đình tôi hy vọng được thắng kiện không ạ?

Rất mong được quý luật sư phúc đáp, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến,:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì vào năm 1996 bạn được giao ruộng khoán bên bãi cát tổng là 1.510m2 do ông D.V.T làm xóm trưởng ký giao, đến năm 2007 ông N.N.T làm xóm trưởng có ý kiến bên bãi cát trồng lúa không hiệu quả. Bên lưu hôi có ruộng của cô H.T.L trả lại là 3 sào và không làm nữa, lúc đó ông N.V.H nhà ở xóm 3 muốn mở trang trại bên bãi cát gần khu đó muốn chuyển đổi, bạn và bà B.T.L, nhà ở xóm 2 nhất trí chuyển và ông N.N.T dẫn tôi sang đồng lưu hôi bàn giao 3 sào của cô H. T. L. Khi đó sẽ áp dụng quy định tại Điều 24, Điều 25 Luật Đất đai 1993 (luật áp dụng tại thời điểm giao đất):

"Điều 24

Thẩm quyền giao đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp được quy định như sau:

1- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao đất cho các tổ chức;

2- Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân.

Điều 25

Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất quy định tại Điều 23 và Điều 24 của Luật này không được uỷ quyền cho cấp dưới."

Như vậy, việc xóm trưởng ký giao đất ruộng khoán cho bạn hay cô H.T.L thì đều không có hiệu lực và không thể áp dụng làm căn cứ để xác định chủ sở hữu quyền sử dụng đất. Để xác định chủ sở hữu quyền sử dụng đất đó thì phải căn cứ vào Hồ sơ địa chính và tình hình thực tế sử dụng đất. Theo thông tin bạn cung cấp thì gia đình bạn sử dụng đất ổn định từ năm 2007 đến nay và có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất với nhà nước, gia đình bạn thuộc vào trường hợp có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 101 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội nếu có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc sử dụng đất ổn định không có tranh chấp đến thời điểm bồi thường.

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Trong đó việc xác định sử dụng đất ổn định căn cứ vào quy định tai Điều 21Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai cụ thể như sau:

– Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

– Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

+ Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

+ Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

+ Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

+ Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

+ Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

+ Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

+ Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

+ Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

+ Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

Để giải quyết tranh chấp này, bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết đến UBND hoặc gửi đơn kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Việc xác định ai là người thắng kiện sẽ phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền giải quyết căn cứ và sự thật khách quan, các bằng chứng, tài liệu chứng cứ chứng minh và căn cứ quy định của pháp luật, chúng tôi chỉ cung cấp một số quy định pháp luật có thể làm căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bạn để bạn tham khảo, chúc gia đình bạn bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình.

>> Tham khảo nội dung: Hỏi đáp pháp luật về đất đai về cách thức giải quyết tranh chấp đất đai?

5. Xin tư vấn về tranh chấp đất thừa kế không di chúc?

Thưa Luật sư, ông bà nội tôi sinh được 8 người con, bố tôi là con trai út trong nhà. Ông Nội tôi đã chia các phần đất cho các con, trong đó bố tôi được ông cho phần đất khoảng 2.000m2 nhưng là diện tích mà ông bà nội tôi đang sinh sống. Do ông bà nội tôi không biết chữ nên chỉ nói miệng. Vì điều kiện sinh sống nên bố mẹ tôi đã dọn ra ở riêng ở phần đất khác mà bố mẹ tôi mua được.

Năm 1990, ông nội tôi mất còn lại bà nội tôi ở đó một mình. Năm 2009, bà nội tôi được bác tôi đón về nuôi. Khi đó bác tôi đòi chia phần đất mà ông nội đã để lại cho bố mẹ tôi. Khi này bà nội tôi vẫn còn minh mẫn, mạnh khỏe. Bố mẹ tôi và gia đình các bác khác thống nhất chia đôi phần đất đó cho bác tôi và gia đình tôi mỗi bên một nửa. Do cán bộ địa chính xã không làm sổ đỏ cho 2 gia đình nên chỉ có tên trên bản đồ địa chính xã. Hàng năm, gia đình tôi vẫn được thông báo nộp thuế và tham gia đóng góp thuế đầy đủ trên phần đất được chia. Có giấy tờ văn bản thông báo nộp thuế của Huyện và hóa đơn thu tiền thuế.

Năm 2014, bà nội tôi mất cũng do không biết chữ và cứ nghĩ mọi việc đất đai vậy là ổn thỏa nên bà không để lại di chúc gì. Đến năm 2015, bác tôi lại đòi thêm đất mà nhà tôi được chia. Gia đình tôi đã nhượng bộ và cắt thêm cho gia đình bác 200m2. Năm 2016, bác tôi lại tiếp tục đòi đất và đòi cho con trai của bác tôi đứng tên trên toàn bộ số đất mà ông bà nội tôi để lại (tổng diện tích 2.000m2).

Trong trường hợp này tôi và gia đình tôi cần làm gì để có thể hợp pháp hóa quyền sở hữu diện tích 1.000m2 đất được chia từ năm 2009 khi bà nội tôi chuyển về ở cùng gia đình bác tôi? Rất mong quý Công ty có thể tư vấn giúp tôi và gia đình. Trân trọng!

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến,:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Trường hợp 1: Đất của ông bà bạn chưa có giấy tờ, tức là chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định, dựa theo thông tin bạn cung cấp, mảnh đất 1.000m2 của gia đình bạn được ông bà bạn để lại trước khi mất, chưa có sổ đỏ nhưng đã được vẽ trong bản đồ địa chính của xã, tức là mảnh đất đó đã được chính quyền địa phương chứng nhận quyền sở hữu trên bản đồ địa chính xã. Đồng thời, gia đình bạn đã đóng thuế đầy đủ từ thời điểm đó đến nay, có biên lai nộp thuế nhà đất, giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú tại nhà ở gắn với đất ở, giấy tờ nộp tiền điện nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại mảnh đất đó nên có đủ căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định của gia đình bạn.

Nếu mảnh đất đó không có tranh chấp, gia đình bạn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013:

– Mảnh đất đó đã được sử dụng ổn định từ trước này 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai.

– Nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất,quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch.

Vì vậy, gia đình bạn phải giải quyết tranh chấp trên trước, trong trường hợp này nếu như hai bên tiến hành hòa giải không thành thì bạn cần gửi đơn đến đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp đất để hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013.

Tuy nhiên, nếu như hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã không thành thì bạn được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết sau:

– Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, đối với trường hợp này thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ giải quyết, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì bạn có thể khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

– Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Cụ thể là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trường hợp 2: Đất của ông bà để lại đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu đất đai này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì di sản do bà bạn để lại được phân chia theo quy định của pháp luật do bà bạn không để lại di chúc. Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, 2.000m2 đất này sẽ được chia đều cho những người thuộc 2 thừa kế thứ nhất của người chết nếu phần diện tích bác bạn đang sử dụng và bố bạn đang sử dụng đều chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức là chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Nếu trong trường hợp các bên xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai về tự ý tháo dỡ phần mái nhà của hàng xóm khi xây dựng?

6. Giải quyết tranh chấp đất nghĩa địa?

Dòng họ tôi có khoảng 50 mồ mả chôn gần nhau trong nghĩa địa, thuộc địa phương quản lý. Gần khu dân cư sinh sống, nên thường xả rác, phân động vật, xác chết động vật và rác sinh hoạt lên mồ mả ông bà. Gia đình dòng họ cung báo chính quyền về vụ xả rác nhiều lần mà không giải quyết.

Nên tôi dựng tượng phật địa trạng cho khỏi xả rác, sạch sẽ môi trường và chính quyền nhiều lần vận động tháo gỡ. Vậy xin hỏi tôi dựng tượng có trái pháp luật không và lấn chiếm đất đai không? Mới đây chính quyền có thông báo phạt 4 triệu đồng, buộc tháo gỡ. Vậy xin hỏi chính quyền địa phương làm đúng pháp luật không? Gia đình xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,: Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật đất đai năm 2013 về những hành vi bị nghiêm cấm trong đó có hành vi lấn, chiếm, hủy hoại đất đai. Mặt khác, đất nghĩa địa không thuộc quyền sử dụng quản lý của bất cứ hộ dân nào kể cả hộ có mồ mả ông bà trên đó mà thuộc quyền quản lý của địa phương. Nên việc bạn lấn chiếm đất nghĩa địa để dựng tượng phật địa trạng là vi phạm với quy định của pháp luật đất đai.

Tại khoản 2, khoản 5 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:

"Điều 10. Lấn, chiếm đất

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này.

…

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này."

Với hành vi vi phạm pháp luật đất đai này, gia đình bạn có thể bị xử phạt hành chính theo quy định trên và buộc khôi phục lại tình trạng của như trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã lấn chiếm. Người có thẩm quyền xử lý, xử phạt vi phạm hành chính về vấn đề này thuộc về Chủ tịch UBND xã, chính quyền địa phương yêu câu bạn tháo gỡ và phạt vi phạm 4 triệu đồng là đúng theo quy đinh của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7:Đăng ký tư vấn luật đất đai và nhà ở hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Nhà thổ cư Hà Nội.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai – Nhà thổ cư Hà Nội

Vp luật sư Nhật Minh